Nourishing soul, Broadening mind

Góp Ý

Selma Lagerlöf với “Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils”
Update Date: 11/22/2011

Đọc cuốn tiểu thuyết khá dài này, đến lúc sắp kết thúc, người đọc như biết ra một điều qua cái chuyện ở chương 40. Tác giả kể như một tâm sự: “Đúng cái năm mà Nils Holgersson cùng đi với đàn ngỗng trời thì có một người không lúc nào là không nghĩ đến một cuốn sách muốn viết về nước Thụy Điển, một cuốn sách tập đọc cho trẻ em các trường. Người ấy đã nghĩ từ lễ Giáng sinh cho đến mùa thu năm sau, nhưng mà chưa viết được một dòng, và cuối cùng chán quá, đến nỗi tự nhủ rằng: “Không thể nào viết nổi đâu…”

Để tìm cảm hứng, bà về thăm quê cũ đã bỏ đi, nhà xưa đã bán mất ngoài hai chục năm rồi. Đến nơi, giữa một đêm trăng đẹp, bỗng nghe những tiếng kêu cứu trong vườn, chạy lại thì trông thấy một cảnh quái lạ: một con người bé tí, chẳng “cao hơn bàn tay” là mấy, đang chống lại một con cú. Được cứu thoát, con người bé tí nói:

- Cháu biết bà tưởng cháu là gia thần, nhưng cháu là người cũng như bà vậy, có điều là cháu bị biến thành gia thần.

- Thật là việc quái dị nhất xưa nay, ta chưa từng nghe thấy! Cậu có muốn kể lại cho ta biết việc đã xảy ra cho cậu như thế nào được không?

Chú bé kể rằng mình là Nils Holgersson, vì nghịch ác mà bị một tumtê – người Thụy Điển gọi như vậy những vị thần sống trong các gia đình của họ – báo thù làm cho bé lại bằng tầm vóc của các gia thần. Gặp lúc đàn ngỗng trời hồi cư bay qua, con ngỗng đực nhà mình muốn bay theo, Nils cố giữ lại thì bị nó tha bổng đi luôn theo đàn ngỗng trời, và nhân thế đã được bay từ nam lên bắc Thụy Điển, rồi trở về.

Chú càng kể, người nghe càng kinh ngạc, càng thán phục và càng thích thú. Nghe xong, bà ta tự nhủ: “Duyên may quả thật lạ lùng, dun dủi cho mình gặp được một kẻ đã chu du suốt đất nước Thụy Điển trên lưng một con ngỗng! Mình chỉ cần viết lại chuyện cậu ta là thành cuốn sách đã làm mình lo nghĩ đến thế”.”

Sự thật là năm 1906, có một cuộc thi làm cho cả nước Thụy Điển say mê: chính quyền mi các nhà văn, nhà thơ lớn nhất của đất nước viết sách tập đọc cho các trường tiểu học. Xuất thân là cô giáo, duyên nợ còn nặng với sự nghiệp giáo dục, Selma Lagerlöf dự thi và được giải nhất về truyện với cuốn Nils Holgerssons underbara resa genom Sverige (Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils, ấn bản năm 2011, NXB Trẻ, sách thuộc tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng do nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu). Năm ấy cuộc đời sáng tác, sự nghiệp văn chương của Selma Lagerlöf đã rất nổi tiếng trên thế giới rồi.

 

1. Một cuộc đời sáng tác độc đáo, những vinh dự hiếm có đối với một nữ văn hào

Chuyện kể lại trong chương 40 của sách này diễn ra ở “Cái trại nhỏ” và cái trại được tả tỉ mỉ đến từng chi tiết, với giọng văn rất mực trữ tình, vì đó chính là cái trại của gia đình Lagerlöf, nơi chôn nhau cắt rốn của Selma, trại Mårbacka ở tỉnh Värmland, cái tỉnh “để cho sóng nước hồ Venern tắm chân mình… mặc cái áo khoác rừng cây viền cúc dải xanh lam những nước với đồi”[1] có cảnh thiên nhiên rất tiêu biểu cho đất nước Thụy Điển. “Bên trái, tim nó đập trong các hầm mỏ và các cánh đồng đầy quặng, và ở phía bắc đầu nó đầy những bí ẩn của rừng đại ngàn”1; với mỏ sắt và rừng cây, Värmland cũng điển hình về mặt nguồn lợi và đời sống của nước Thụy Điển. Ở đó Selma Ottiliana Lovisa Lagerlöf ra đời ngày 20 tháng 10 năm 1858.

Lên ba tuổi, cô bé Selma bị liệt cả hai chân, và suốt sáu năm không cử động được, sau này chữa khỏi thì đi có hơi cà nhắc. Ở cái tuổi hiếu động mà phải nằm một chỗ, cô bé chỉ còn một cách là rút vào thế giới mộng ảo của những truyện cổ, tối tối được nghe kể bên ánh lửa gia đình. Và nhân vật của các truyện ấy là những người bạn đầu tiên của cô bé bị liệt, và sau này nữ văn hào Lagerlöf vẫn xem là những “bạn cố tri thân yêu, thời xưa… đã đem đến cho kẻ sống dốt nát và cô độc những hình ản đầu tiên của một cuộc đời phiêu lưu”1.

Cảnh sống cô độc làm cho cô bé trở nên kín đáo và nhạy cảm. Về cuối đời, trong một truyện tự thuật, Selma Lagerlöf kể lại là năm lên mười, bố ốm nặng, anh và chị đều cầu Chúa cho bố khỏi; Selma thì không làm thế, sợ người ta cười, nhưng lại tâm niệm sẽ đọc trọn bộ Kinh Thánh không bỏ sót một chữ, để Chúa thấu rõ lòng thành, giúp cho bố tai qua nạn khỏi. Và một thời gian dài, trong gia đình không ai hiểu cái nguyên nhân huyền bí nào đã thu hút cô bé vào bộ sách đồ sộ mà chắc chắn là cô không hiểu chút nào cả.

Nhưng khi mà cô bé quen sống trong mộng ảo ấy lớn lên thì các thế giới quen thuộc, thân yêu của cô đang bước vào thời tan rã. Trong nửa sau của thế kỉ 19, Thụy Điển chuyển nhanh từ kinh tế nông nghiệp sang cách mạng công nghiệp. Quý tộc địa chủ và chủ nhân của những sản nghiệp nông nghiệp và thủ công tổ chức theo kiểu gia trưởng, đua nhau phá sản. Cả tỉnh Värmland lâm vào cảnh khó khăn, cái trại Mårbacka không nuôi nổi gia đình Lagerlöf; năm 1885 bố mất, chị của Selma liền đem bán cho người khác.

Trước đó Selma đã phải lo tự thân lập thân. Thi vào trường Cao học Sư phạm ở Stockholm, khi tốt nghiệp đã gần ba mươi tuổi, Selma được bổ đi dạy tại một trường trung học ở Landskrona, một cảng nhỏ trên bờ biển phía nam. Những năm còn là sinh viên, Selma đã được chứng kiến những cuộc tranh luận ráo riết và chính mình cũng tham gia tích cc những cuộc tranh luận ráo riết của thời mình: về giải phóng phụ nữ, về chống nạn nghiện rượu, về chủ nghĩa xã hội, về bảo vệ hòa bình. Những năm cuối thế kỉ, các cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng; sản phẩm công nghiệp không tìm được thị trường tiêu thụ, nạn thất nghiệp buộc một phần lớn thanh niên nông thôn phải di cư sang châu Mĩ. Không sống tách rời những cuộc đấu tranh xã hội, cũng muốn góp tiếng nói vào những tiếng xôn xao của thời mình, cô giáo cầm bút viết văn khi đã ngoài ba mươi tuổi.

Và ngày lễ Giáng sinh năm 1891, nhân dân Thụy Điển được đọc một cuốn truyện li kì, phong phú, rực rỡ, duyên dáng, quyến rũ vô cùng, kể lại đời sống lạ lùng, gần như điên dại, tựa hồ ma quái, ở một xã nọ trong tỉnh Värmland vào những năm 20 của thế kỉ 19, do những trò đùa nghịch của một nhóm người gọi là “hiệp sĩ” bày ra. Họ là những quân nhân giải ngũ, những triết gia, thi nhân, nghệ sĩ, nhà phát minh, “toàn những hảo hán, gan góc mà tiếng tăm còn lâu mới phai mờ ở đất Värmland… những sĩ quan chân trắng làm nên, những nhà quý tộc sa sút, những tay phiêu lưu mạo hiểm và những giang hồ kiêu hãnh” và một mục sư trẻ tuổi phá giới là Gösta Berlings mà tài ba bằng tất cả các hiệp sĩ kia cộng lại; họ được một người đàn bà giàu có và oai quyền, hào hiệp đón về ở gia trạch của mình làm thực khách. Đời sống của các hiệp sĩ chỉ là “cuộc vui suốt tháng” do Gösta Berlings dẫn đầu, mà nhân dân tỉnh Värmland truyền tụng gần như sự tích hoang đường; nhưng Selma Lagerlöf kể lại không phải để lưu truyền truyện cổ, mà qua những “hiệp sĩ” để phê phán những văn nhân, nghệ sĩ hão huyền không biết quan tâm đến đời sống nhân dân; cuối truyện các tai họa xảy đến đã làm cho kẻ siêu nhân lãng mạn Gösta Berlings tỉnh ngộ, quyết tâm lấy “cảnh thanh bần và lao lực” làm phương thuốc chữa bệnh ngông cuồng của mình.

Với tập Truyện cổ Gösta Berlings (Gösta Berlings saga) đầu tay, Selma Lagerlöf còn đề cập bao vấn đề thuộc nhiều mặt khác nhau trong đời sống: tôn giáo, tín ngưỡng, hôn nhân, gia đình, lao động, sản xuất, quan hệ xã hội; nên cuốn tiểu thuyết mang danh là truyện cổ đó phong phú nội dung hiện thực, đậm đà màu sắc trữ tình; năm 1890 đã được giải nhất trong một cuộc thi tiểu thuyết, rồi năm sau xuất bản thành sách, liền đặt tác giả của nó lên hàng những nhà văn lỗi lạc của các dân tộc Bắc Âu.

Tình cảm chi phối toàn bộ là tình thương yêu “những người giản dị, chất phác”, những truyện tiếp theo cũng chan chứa tình cảm ấy, nhất là tập Những dây ràng buộc vô hình (Osynliga länkar) ra đời năm 1894. Đã tìm ra đường đi, năm sau Selma Lagerlöf thôi dạy học, chuyên hẳn nghề văn và trong mấy năm còn lại của thế kỉ 19, viết liền mấy cuốn: Những phép màu của Phán Cơ đốc (Antikrists mirakler), Những tòa gia trạch cổ (En herrgårdssägen), Những vương hậu ở Kungahallê (Drottningar i Kungahälla), Chiếc vòng của người đánh cá.

Thế kỉ 20 bắt đầu, Selma Lagerlöf đã cho ra đời bộ tiểu thuyết lớn Jerusalem(1901-1902) gồm hai tập Jerusalemở DalarneJerusalemở Đất Thánh, dựa vào một việc thật: một người thủy thủ như được linh ứng đi truyền Kinh Phúc Âm, tập hợp một nghìn năm trăm người đưa sang lập một cộng đồng theo Phúc Âm ở châu Mĩ. Nhân vật của bộ Jerusalemlà những nông dân một xã ở tỉnh Dalarne, thật thà, chất phác, trung thành với những phong tục cổ truyền của ông bà, bỗng được một người di cư từ bên Mĩ về giảng truyền Phúc Âm làm cho xao xuyến tâm hồn, nhổ khỏi quê cha đất tổ; nhưng đáng lẽ đi sang Mĩ thì Selma Lagerlöf lại cho họ đi đến Đất Thánh Jerusalemvà lập ở đấy một xã hội công bằng “một cộng đồng thực sự là Jerusalemtừ trên trời hạ xuống”, mọi người sống hòa thuận, thương yêu nhau, chung nhau của cải, nuôi dạy trẻ nghèo, chữa bệnh người ốm, không xây nhà thờ mà thuyết giáo ngay giữa quảng trường vì tự cho là những người duy nhất giữ được đạo Cơ Đốc chân chính. Viết về nông dân có lẽ không nhiều cuốn tiểu thuyết đã tả được nông dân với bút pháp hiện thực và tấm lòng thông cảm như bộ Jerusalemnày.

Truyện cổ Gösta Berlings tiêu biểu cho phong cách viết truyện của Selma Lagerlöf, cuốn truyện nổi tiếng thì nhiều người muốn biết là tác giả đã viết như thế nào: vào năm 1902, nhà văn kể lại bước đường sáng tác của mình trong cuốn Một truyện cổ về một truyện cổ (En saga om en saga och andra sagor); rồi phong cách quen thuộc đó trong năm 1904 viết thêm hai cuốn Những đồng tiền bạc của ông Arnê (Herr Arnes penningar) và Truyện Chúa Cơ Đốc (Kristuslegender). Hai năm sau, nhân cuộc thi viết sách tập đọc cho các trường mà Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils ra đời; và chẳng bao lâu tiếng tăm của “cuốn sách tập đọc” đó đã lan khắp thế giới, đến nỗi làm cho tác giả phải phật lòng, bởi vì cuốn sách viết ra cho trẻ con ấy lại có thể làm cho thiên hạ tạm quên bao cuốn đã viết ra cho người lớn. Sự thật, trên thế giới này hễ nói đến Selma Lagerlöf, dù không hề nghiên cứu các nền văn học Bắc Âu, ai cũng không khỏi nhớ đến Truyện cổ Gösta Berlings Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils vì chỉ hai tác phẩm đó cũng đủ làm cho một sự nghiệp văn chương trở nên bất tử rồi.

Cũng cái năm mà Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils ra đời, trường đại học Uppsala, lớn nhất Thụy Điển, phong tác giả học hàm Tiến sĩ danh dự; và hai năm sau, trước dư luận trong nước cũng như ngoài nước đồng thanh đề cử, và mặc dù có ý “hồi tị” nhiều năm rồi không muốn bầu người nước mình, Viện Hàn lâm Vương quốc Thụy Điển cũng phải thể theo dân ý trao tặng Selma Lagerlöf giải Nobel Văn học năm 1909, trong niềm hân hoan của tất cả mọi người, vì đó là nhà văn Thụy Điển đầu tiên, lại là nữ văn hào đầu tiên trên thế giới được giải thưởng ấy; và từ khi có giải thưởng ấy đến nay, tám mươi bảy năm qua, mới chỉ có sáu nữ văn hào, thi hào được vinh dự ấy thôi.

Một nhân vật của bộ Jerusalem là Ingmar vì “cửa nhà sa sút”, phải đi học để làm thầy giáo, nhưng trong một trận cuồng phong tưởng như nghe “tất cả tổ tiên dòng họ Ingmarson đe dọa và nguyền rủa vì đã nghĩ đến việc làm một nghề khác nghề nông, và làm lụng với cái gì khác rừng núi và đất đai”[2] thế là Ingmar đã trở về với đất đai và tổ tiên. Selma Lagerlöf đã đi làm cô giáo tám năm và đã nổi tiếng trên văn đàn, nhưng cũng chẳng khác gì anh nông dân Ingmar tỉnh Dalarne, lúc nào cũng ao ước trở lại với đất đai, và giải Nobel đã giúp Selma thực hiện điều mong mỏi thiết tha của đời mình: chuộc lại trại Mårbacka, sản nghiệp cũ của gia đình. Và thật chẳng ai ngờ, nhà nữ văn hào đã ngoài năm mươi tuổi và đã xa ấp trại hơn một phần tư thế kỉ, lại là một nhà nông học rất thành thạo, am hiểu việc sản xuất, và điều khiển việc làm ăn rất mẫu mực. Bò sữa nuôi ở Mårbacka được giải nhiều lần ở các cuộc thi gia súc; bột hương mạch sấy, “bột hương mạch rây Mårbacka” nổi tiếng khắp nước Thụy Điển.

“Việc nhà đã tạm thong dong”, Selma Lagerlöf có thể yên tâm hoàn thành sự nghiệp văn học với nhiều tác phẩm trong thời tráng niên và lão thành. Năm 1911 ra đời cuốn tiểu thuyết tâm tình Ngôi nhà của Liliêcrôna (Liljecronas hem) và năm sau đến lượt một tác phẩm lạ lùng Chiếc xe của Thần Chết (Körkarlen) cũng nhân một truyện cổ mà dựng thành một cuốn tiểu thuyết về ý nghĩa của cuộc đời và cái chết. Tiếp theo là cuốn Hoàng đế Bồ Đào Nha; và năm 1914 ấy Viện Hàn lâm Vương quốc Thụy Điển bầu Selma Lagerlöf làm nữ viện sĩ đầu tiên; rồi đến cuốn truyện đậm đà khí vị thần thoại Bắc Âu hơn cả là Thế giới các yêu lùn (Troll och Människor – 1915).

Tuy say sưa với các yêu lùn, quỷ núi, trong Đại chiến Thế giới thứ nhất, dù đất nước mình ở ngoài vòng lửa đạn, Selma Lagerlöf vẫn không quên góp tiếng nói của mình vào những vấn đề nóng bỏng của thời đại; và thế là chiến tranh chưa dứt, năm 1918 đã ra đời cuốn tiểu thuyết Người đi đày, một bản cáo trạng hùng hồn lên án chiến tranh phi nghĩa, viết với một tấm lòng thiết tha vô hạn.

Ngoài sáu mươi tuổi, Selma Lagerlöf bắt tay viết bộ tự truyện kể lại đời mình, nhan đề có ý nghĩa là Mårbacka (1922) sau bổ sung thêm hai cuốn Hồi kí của tôi (Ett barns memoarer: Mårbacka, 1930) và Nhật kí (Dagbok för Selma Ottilia Lovisa Lagerlöf, 1932). Tác phẩm lớn trong tuổi già của Selma Lagerlöf là tiểu thuyết bộ ba Sarlôttê Lơvensơn (Charlotte Löwensköld, 1925-1929) qua những thăng trầm của một gia đình, tác giả minh họa một chủ đề nhân đạo: lòng thương yêu của con người có thể thắng mọi nỗi bất hạnh trong đời.

Những tác phẩm cuối cùng của Selma Lagerlöf là Anna Xverd (Anna Svärd, 1928), Mùa thu (1933) và Truyện lễ Giáng sinh (Julberättelser, 1938). Rồi giữa lúc Đại chiến thế giới thứ hai lan lên Bắc Âu thì Selma Lagerlöf qua đời, ngày 16 tháng ba 1940, thọ tám mươi hai tuổi. Nghe tin, toàn dân Thụy Điển xúc động, quên hẳn chiến cục đang diễn ra dữ dội trên đất Na Uy bên cạnh. Chiếc tàu thủy chạy trên biển Aland mang tên Gösta Berling kéo còi báo tang; các tàu khác trên suốt mặt biển Baltic kéo theo; toàn thể nhân dân và triều đình Thụy Điển để tang, vì “hơn cả công chúa, hơn cả vương hậu, đó là Selma Lagerlöf”[3].

Sinh thời nữ văn hào đã được đồng bào mình rất mực mến yêu: trường hợp tên một nhân vật tiểu thuyết mà được đem đặt cho một tàu biển lớn như chiếc Gösta Berling thật là hãn hữu, có lẽ là độc nhất. Mà thế giới cũng hâm mộ không kém: các tác phẩm của Selma Lagerlöf đã được dịch ra hơn năm mươi thứ tiếng. Nghệ thuật có tính quần chúng rộng rãi nhất của thế kỉ là điện ảnh, cũng đã đưa Gösta Berlings, Nils Holgersson, Charlotte LöwensköldChiếc xe của Thần Chết lên màn bạc; phim sau này với nhan đề Chiếc xe ma đã thành tác phẩm kinh điển của nghệ thuật thứ bảy. Và năm 1958, nữ văn hào tiêu biểu của đất nước Thụy Điển đã được Hội đồng Hòa bình Thế giới kỉ niệm một trăm năm ngày sinh, và năm 1990 sắp đến chắc lại kỉ niệm năm mươi năm ngày mất.

 

2. Một sự nghiệp văn chương sâu sắc, ý thức trách nhiệm xã hội, đậm đà – lòng nhân hậu, từ ái

Bước vào nghề viết văn, Selma Lagerlöf viết một truyện cổ, bắt đầu đêm Giáng sinh năm trước và kết thúc đêm Giáng sinh năm sau, mà tác giả gọi là một saga – Gösta Berlings saga. Nửa thế kỉ sau, tám mươi tuổi, kết thúc sự nghiệp của mình, nữ văn hào lại viết một cuốn Truyện lễ Giáng sinh. Gần hết các tác phẩm của Selma Lagerlöf, trong suốt cả cuộc đời viết văn, đều viết theo thể saga, kể cả các cuốn đậm tính hiện thực nhất.

Trước thế kỉ 12, ở các nước Bắc Âu, thịnh hành những truyện kể gọi là saga mà những tác giả vô danh soạn bằng văn xuôi và những người được gọi là Xcanđ chuyên kể lại ở các cung đình hay thành lâu của các lãnh chúa. Saga đã là những áng văn nghệ thuật khá tinh vi, nhưng vẫn rất gần văn học dân gian và được nhân dân ưa thích vì thuật lại kì công, vĩ nghiệp của các anh hùng; ca tụng những truyền thống dũng cảm, hi sinh, tự cường, nhân ái của các dân tộc Bắc Âu.

Diễn văn long trọng Selma Lagerlöf đọc trong lễ nhận giải thưởng Nobel, cũng là một saga li kì và hết sức bất ngờ. Văn hào kể lại là mình đã lên trời, tìm gặp linh hồn người cha quá cố, “làm bộ lo lắng vô cùng, xin cha một lời khuyên phải lẽ, vì đang mắc nợ người ta không biết bao nhiêu mà kể”. Và nợ những ai, Selma nói rõ: nợ cha mẹ, bà con, xóm làng, nợ các hiệp sĩ giang hồ trong các truyện cổ, nợ yêu lùn, quỷ núi của đất nước Thụy Điển. Thật vậy, từ tấm bé, khi đôi chân còn bị liệt, tâm hồn Selma đã được dưỡng dục bằng những truyện kể của cha về sự tích các hiệp sĩ, “những truyện hoang đường mà những bà già tóc bạc kể cho đám trẻ con ngồi trong buồng trên những ghế thấp nghe; những truyện mà người ở và tá điền kể cho nhau nghe trong khi hơi bốc lên từ áo quần thấm nước và với những con dao có vỏ đựng bằng da họ phết bơ lên bánh mì mềm; những cuộc phiêu lưu ngày xưa mà chủ ông đã già, ngồi ghế xích đu, kể lại trước làn khói của những cốc nước nóng pha rượu với chanh”[4].

Trong số những người mình mắc nợ, Selma Lagerlöf còn kể đến “những tác giả vĩ đại Na Uy và Nga”, nhất là H. Ibsen. Nhưng trong việc hình thành phong cách độc đáo của Selma Lagerlöf thì giáo dục của gia đình và truyền thống của quê hương, của tỉnh Värmland mà “cứ bước chân ra các bao lơn là các truyện cổ bay phấp phới khắp chung quanh như những con ong mùa hạ”[5], đã đóng vai trò quyết định hơn những nhà văn hiện thực chủ nghĩa tiền bối mà Selma hằng kính phục.

Giáo dục gia đình và truyền thống quê hương làm cho Selma Lagerlöf như nhớ tiếc đời sống gia trưởng của nông thôn Thụy Điển, ngậm ngùi cho số phận suy tàn không cơ vãn hồi của xã hội nông dân gia trưởng ấy trước sức tấn công không thương xót của chủ nghĩa tư bản, nhưng vẫn lạc quan mong chờ một ngày mai lí tưởng sẽ đến, như trong các truyện dân gian. Tuy vậy, những vấn đề mà Selma Lagerlöf đề cập đến trong các tác phẩm của mình cũng chỉ là những vấn đề của xã hội trước mắt, như bất kì tác phẩm hiện thực chủ nghĩa nào cùng thời. Có điều là Selma Lagerlöf không đi thẳng vào hiện thực, mà mượn những biểu tượng từ những thế giới hư huyền hay xa xưa, để phản ánh hiện thực; và có lẽ không có nhà văn nào đã tìm ra những biểu tượng có sức hấp dẫn lòng người đến thế. Nhưng qua các biểu tượng, không ai là không nhận thấy “nội dung các tác phẩm của bà luôn luôn thấm nhuần sâu sắc ý thức trách nhiệm xã hội”[6].

Selma Lagerlöf quan niệm rằng nghệ thuật phải góp phần xây dựng cho con người “một cuộc đời chính trực”. Gösta Berling và các hiệp sĩ đã bị tác giả lên án như hạng văn nhân, nghệ sĩ tự xem mình là con cưng của xã hội, không cần lo cái lo của nhân dân, mà xem xã hội là một hí trường để mình đóng những vai trò xuất chúng.

Đối với hiện thực xã hội, Selma Lagerlöf am hiểu sâu sắc, vì suốt đời sống gần nhân dân và quần chúng đọc sách của mình. Trong số những người mà mình “mắc nợ”, Selma còn kể đến những nông dân trên đất nước Thụy Điển, những người đã kéo nhau di cư ra nước ngoài, tất cả những ai đã làm cho ngôn ngữ của dân tộc phong phú, và cả “những bạn đọc”, người lớn và trẻ em nữa, vẫn nguệch ngoạc biên cho mình những lá thư cám ơn về cái truyện – chú Nils.

Vì lòng yêu thương và cảm thông với những con người như thế mà Selma Lagerlöf đã xây dựng được trong các tác phẩm của mình biết bao con người bình thường mà rất quyến luyến với người đọc; và quý hơn nữa là những cảnh đời ngụ ý tốt đẹp, và cả những ý nghĩ thực sự tốt đẹp nữa, chẳng hạn: “tôi nghĩ là không có gì đẹp hơn được thấy những người xả thân để sống một cuộc đời chính trực”.

Vì một cuộc đời như thế, Selma Lagerlöf không ngần ngại đấu tranh: đấu tranh cho đời sống của “những người hèn mọn”, cho hạnh phúc của phụ nữ, cho tiến bộ của xã hội, cho cái tốt thắng cái xấu trong quan hệ giữa người với người; đấu tranh trong các tác phẩm của mình đã đành, còn đấu tranh trong hoạt động thực tế nữa. Selma Lagerlöf tích cực bảo vệ những nhà trí thức bị đàn áp vì tư tưởng, vì chính kiến: hăng hái lao vào các cuộc chiến đấu, ra những bản tuyên ngôn, mở những cuộc quyên tiền ủng hộ các chiến sĩ đấu tranh cho tự do; vì Selma Lagerlöf vẫn cho rằng: tự do tư tưởng và tự do ngôn luận phải là những điều cần thiết bảo đảm cho phẩm giá của con người.

Để bảo đảm đời sống của loài người, Selma Lagerlöf nghĩ là còn phải đấu tranh cho hòa bình nữa. Thuở mới bắt đầu cuộc đời viết văn, năm 1894, trong tập Những dây ràng buộc vô hình, Selma Lagerlöf đã dựng nên chuyện Nàng quận chúa hòa bình mà hôn nhân đã chấm dứt can qua bao nhiêu năm giữa hai nước láng giềng Na Uy và Thụy Điển.

Hai mươi bốn năm sau, Selma Lagerlöf lại lần nữa cầm bút chống chiến tranh phi nghĩa. Sau cuộc sát sinh khổng lồ là Đại chiến Thế giới thứ nhất thì những tác phẩm lên án chiến tranh ra đời nhiều; nhưng ngay trong lúc chiến sự còn diễn ra thì Selma Lagerlöf đã cho xuất bản cuốn Người đi đày. Cùng với cuốn Lửa của Henri Barbusse, Người đi đày đã mở đầu cho loại tiểu thuyết phản đối chiến tranh. Và lần đầu tiên nữ văn hào bỏ phong cách quen thuộc những từ ba mươi năm của mình, không tìm đề tài trong truyện cổ dân gian, trong lịch sử lâu đời hay ở đất nước xa lạ, mà lấy ngay trong một sự kiện trước mắt, một trận thủy chiến lớn xảy ra ở Bắc Hải năm 1916; và xác những thủy thủ Anh và Đức tấp vào bờ nhiều không đếm xuể. Selma Lagerlöf sử dụng ngòi bút hiện thực chủ nghĩa viết lên bản cáo trạng chiến tranh phi nghĩa, và lòng bất bình của tác giả bùng lên trong nhiều trang sách. Con người vốn cung kính đối với nấm mồ và nghĩa trang, trân trọng đối với thế giới những kẻ đã khuất ấy rất phẫn nộ trước những việc xảy ra trong thế giới những người đang sống. “Đã từ lâu, tôi hiểu rằng độc ác đối với những người sống còn nhục nhã hơn xúc phạm đối với một người chết”.

Selma Lagerlöf có lẽ là một người đàn bà rất hiếm, nhất là đối với một văn hào, mà suốt cả cuộc đời rất dài, không hề biết đến tình yêu. Nhưng người phụ nữ độc thân, không có tình sử đó, lại rất đỗi cảm thông với chị em bạn gái đau khổ trong tình yêu, hôn nhân và gia đình. Đa số nhân vật nữ của Selma đều là người xuất sắc, mà có người nào thực sự có chút hạnh phúc đâu; không khổ vì gia đình ép uổng thì khổ vì lòng người đổi trắng thay đen, hoặc chồng con hư hỏng.

Selma Lagerlöf lại còn mang một tình thương yêu chan chứa đối với mọi người. Tình cảm chỉ đạo bao nhiêu tác phẩm của Selma là lòng nhân hậu, từ ái, xót thương, nhất là đối với “những người hèn mọn”, “những người bình dị, chất phác”; và tất cả những người như thế trên đất Thụy Điển và khắp nơi, mà mến yêu Selma thì cũng là chính vì tấm lòng ấy của nữ văn hào. Người đọc sách của Selma lại còn bị chinh phục nữa vì nghệ thuật kể chuyện của tác giả, nhẹ nhàng, thân mật, dí dỏm với cái duyên kín đáo, với những lời giản dị nhưng thấm thía, đi thẳng vào lòng người mà cơ hồ không cần đến chút trang sức nào của thuật viết văn.

Về cái tâm và cái tài của Selma Lagerlöf, có thể nói rất công bằng như Marc Soriano rằng: “Lòng nhân hậu và biết xót thương của bà cho phép bà tiên cảm một thế giới công bằng hơn và giữ vẹn lòng tin của con người. Trong chừng mực nào đó người ta lại còn có thể khẳng định rằng bà chuẩn bị cho tương lai ấy, vì bên ngoài những ý kiến còn mơ hồ của bà, bà biết nghệ thuật nói thẳng với lòng người. Về bà, người ta có thể nói cái điều mà Frederick đã nói về Andersen: “Lòng từ ái của con người cũng là một nhân tố làm tiêu tan những gì xấu xa và lạc hậu”[7].

 

3. Bài thơ dài về thiên nhiên có một không hai

Ở các trường có một môn học mà học sinh thường không thích mấy, nhất là ở Việt Nam, đó là môn địa lí. Dự cuộc thi viết sách tập đọc cho trường tiểu học, Selma Lagerlöf đã chọn môn đó và đã viết cho bạn đọc trẻ thơ một cuốn địa lí nước Thụy Điển bằng cách dẫn họ đi với Nils từ quê của chú, nơi mũi đất tận cùng về phía nam Thụy Điển, đến quê của đàn ngỗng trời mà chú đi theo, ở tận cùng biên giới phía bắc, qua suốt đất nước đó. Đi lên bắc thì qua các tỉnh đồng bằng, duyên hải và hải đảo bên phía đông; trở xuống phía nam thì qua các tỉnh núi đồi, cao nguyên băng tích trên phía tây, qua hết hai mươi lăm tỉnh của đất nước Thụy Điển.

Nhưng mà một cuốn “sách tập đọc địa lí” viết cho trẻ em Thụy Điển làm sao mà lại thành ra một áng văn chương lưu truyền sâu rộng, lâu dài trên khắp thế giới được?

Nhiệm vụ của môn địa lí trước hết là đem cho người ta hình ảnh chân thực của thiên nhiên. Ở Thụy Điển, đất đai trồng trọt đến nay[8] cũng chỉ là một phần mười diện tích lãnh thổ; nhưng nơi nào là đồng bằng thì từ trên cánh ngỗng trông xuống thấy bao nhiêu màu sắc khác nhau; những ô màu lá mạ là những đồng lúa mạch gieo từ thu trước còn xanh dưới tuyết phủ, những ô vàng nhạt pha xám là chân rạ lúa mì mùa hạ đã gặt hết, những ô nâu tuyền là những đồng trước đây trồng cỏ chẻ ba, những ô đen là ruộng củ cải đường đã đào hết hay những đám đất bỏ hóa, làm cho đồng bằng dưới mắt người bay cao khác nào “tấm vải kẻ ô sặc sỡ”. Ngày Selma Lagerlöf viết sách này chưa có máy bay; ngày nay phương tiện giao thông đó đã thông dụng, người đọc lại càng phục cái tài tưởng tượng của tác giả.

Đất nước Thụy Điển là một khối đá hoa cương vào hạng cổ nhất, xuất hiện từ những thời đầu tiên của lịch sử địa cầu và đã bị xói mòn hàng trăm triệu năm, rồi sau cùng bị băng phủ lên dày hàng nghìn mét trong hàng chục vạn năm, bào mòn dữ dội nữa nên phần lớn hiện nay là những cao nguyên đá hoa cương, những bờ biển khúc khuỷu mang đầy dấu vết xâm thực của băng; chín vạn sáu nghìn cái hồ chiếm chín phần trăm diện tích toàn quốc, gần bảy nghìn rưỡi kilômét bờ biển chi chít những đầm phá và mười lăm vạn hòn đảo nhỏ.

Tất cả đất nước Thụy Điển với núi, đồi, cao nguyên, sông, hồ, thác nước, đầm phá, bờ biển, quần đảo, với rừng cây nội cỏ, muôn vật và làng mạc, thành thị như đều sống dậy, biểu hiện hết tâm hồn dưới ngòi bút của Selma: “Khắp nơi những ngọn núi xinh đẹp, những thung lũng dịu dàng và những dòng sông uốn lượn, chảy đến tận hồ lớn Vettern, mà băng đã tan và đang lóng lánh ánh dương quang, tưởng chừng không phải chứa nước mà chứa đầy ánh sáng thanh thiên”.

Nils ra đi ngày 20 tháng ba, trở về ngày 8 tháng mười một, mà trải qua đủ các mùa trong năm: những cơn mưa xuân đầu mùa, “mưa ra bánh mì, bánh ngọt”, những cơn bão bất thần kéo đến, những mặt hồ đang tan băng, những cánh rừng vào xuân bắt đầu xanh tốt, những ngày mùa hạ dài thẳng hai mươi bốn giờ, những đêm thu chó sói đuổi theo khách đường trường, những tháng mười ở miền bắc đã chịu cái giá rét địa cực.

Thiên nhiên sinh động lên là nhờ động vật, Selma Lagerlöf vẽ bức tranh của giới động vật, đã tả hình dáng, động tác, tập quán của các loài, chính xác, cụ thể khác nào nhà thiên nhiên học vĩ đại của dân tộc mình Carl Linnaeus, lại thêm cách nhìn thơ mộng, duyên dáng và nhận xét tế nhị, dí dỏm của nhà nghệ sĩ thiên tài nữa. Sáng ra, mặt trời vừa mọc, đánh thức dậy tất cả cư dân trong rừng từ cầm đến thú; sói, gõ kiến, sẻ đá, mai hoa. Xuân về, chim chóc khắp nơi kéo nhau đến hội họp, mang theo nỗi khát khao vô biên: chim bay đến như mưa, từ mưa chim sẻ đến mưa quạ. Chim đi tránh rét, tiết xuân ấm áp thì trở về, đội ngũ chỉnh tề, xôn xao cả bầu trời; gặp sương mù bị lạc hướng, gặp bão bị tan đàn. Các bãi chim tập hợp hàng trăm loài trên cạn, dưới nước. Thiên nga bơi lội duyên dáng như nhà quý tộc rong chơi, sếu thì vút đi như một nghệ sĩ tuyệt vời giữa không gian, đại bàng thì ung dung, khoan thai làm chúa tể bầu trời. Khoảng không của “cuộc phiêu lưu kỳ diệu” như chẳng lúc nào vắng tiếng, vỗ cánh, gọi đàn. Dưới đất thì nào là con cáo ranh ma, con cầy mình dài thô lỗ; trong rừng xanh con nai xứ lạnh là chủ nhân, chốn núi thẳm thì con gấu lông xồm là ẩn sĩ.

Thụy Điển vốn là dân tộc say khoa học nhất thế giới thì cô giáo Selma đã đem vẻ huyền diệu của thơ mộng, làm sinh động, tươi đẹp các kiến thức khoa học khô khan, cho các bạn đọc trẻ tuổi của mình.

Các yếu tố thiên nhiên dưới ngòi bút của Selma Lagerlöf không khác gì những vật có tri giác. Cái phá Mälar lụt mà “nước lên rất chậm như thể miễn cưỡng, buồn phiền vì gây thiệt hại cho các bờ phá xinh đẹp”. Biển với đất gặp nhau, tạo ra các kiểu bờ biển khác nhau, và quan hệ giữa biển với đất cũng chẳng khác gì giữa những con người. “Biển là một kẻ hay lẻn vào chỗ không phải của mình, mà chỉ có đồi và núi mới có thể chống lại nổi, còn đất thấp thì đều đã mất biến dưới làn nước cả”. Nhưng lại có chỗ “mà đất và biển gặp nhau một cách dịu dàng và yên tĩnh, phô ra với nhau những đức tính tốt đẹp nhất của mình”.

Việc phân bố thực vật theo khí hậu vốn chẳng có chút gì là thi vị thì Selma Lagerlöf lại cụ thể hóa ra bằng một giấc mơ rất nên thơ: Nils được con đại bàng quắp từ miền Nam lên miền Bắc Thụy Điển, bay trên không mà ngủ thiếp đi và mơ là đang đi theo mặt trời lên chiến đấu với đại vương băng tuyết, cùng đi với nhiều loài cây cỏ và động vật. Ra đi từ miền Nam khí hậu ôn hòa, có gần đủ loài vật, cây cỏ: các thứ lúa mạch, đậu, táo, phúc bồn, dâu rừng, mua xanh, cúc vàng, bạch đầu ông, cỏ chẻ ba, cỏ tương tư, sồi, dẻ, bồ đề cành lá xào xạc, đắc chí vô cùng. Nhưng rồi thấy tụt mất nào là tiểu mạch, dâu rừng, sồi, dẻ, nào là con mang, chim đa đa; hỏi ra mới biết là đều đã dừng lại vì không chịu được khí hậu bắt đầu lạnh của miền Trung Thụy Điển. Rồi lại thấy biến mất kiều mạch, lõa mạch, đại mạch, đậu Hòa Lan, lê, táo, phúc bồn tử cùng với những người Thụy Điển, những con bò và cả con nai xứ lạnh nữa, vì đã đến miền Bắc rét mướt rồi. Nhưng có những bạn mới đến bổ sung vào hàng ngũ đã thưa thớt; những bụi miên liễu, những cây tùng, cây bách, con cáo xanh, con cú trắng, con gà tuyết, và người Lapps với đàn hươu phương Bắc; thì ra đây đã là quê hương của họ, có khí hậu địa cực, và lên xa nữa thì chỉ mênh mông giang sơn của tuyết băng vĩnh viễn.

Một hôm Nils gặp hai chú bé học trò ngồi khóc giữa đường, một bà lão đi qua hỏi ra mới biết là hai chú không thuộc bài và về nhà sợ bố mẹ giận. Cái bài rất khó thuộc ấy là địa lí tỉnh quê hương của họ. Bà lão bảo hai chú: “học trong sách không phải dễ đâu”, thế rồi bà lão kể cho hai chú nghe một truyện như là thần thoại, về việc tạo lập ra tỉnh Uppland của họ; bà nói đó là “những điều mà mẹ bà đã dạy cho bà về tỉnh này. Bà không được đi học và bà không bao giờ thành người thông thái, nhưng bà nhớ mãi mãi những điều mà mẹ bà đã cho bà biết”. Bà lão dạy địa lí cho trẻ em giỏi hơn sách của nhà trường ấy chẳng phải là Selma sao? Và từ tám mươi năm nay, ba thế hệ rồi, có cậu bé cô bé Thụy Điển nào mà không biết các tỉnh của họ, vừa trong thực tại vừa trong mộng tưởng, vừa cụ thể lại vừa nên thơ, nhờ các truyện mà cô giáo Selma kia đã kể về các tỉnh ấy trong “Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils”?

Bài địa lí ở nhà trường thường dạy theo phương pháp gọi là liệt kê, kể hết sông kia, núi nọ, nào thành phố, nào cảnh vật… bắt học sinh chỉ đơn thuần vận dụng có trí nhớ. Giới thiệu tỉnh Östergötland, Selma để cho nông dân đến hỏi một phu nhân biết nhìn suốt qua thời gian, số phận mai sau của các thánh địa, tu viện, lâu đài, dinh thự, kênh đào, suối khoáng, lò cao, xưởng đúc, nhà máy dệt, đập thủy điện… của tỉnh mình và được nghe những lời tiên tri về các sự vật đó. Tả tỉnh Sörmland, Selma để cho Nils nằm mơ thấy mình bị lạc vào một “khu vườn xinh đẹp” và được hồn ma của một lãnh chúa tỉnh ấy ngày xưa đưa đi chiêm ngưỡng núi, rừng, sông, hồ, xưởng máy, nhà thờ, lâu đài, cung điện. Các bài liệt kê khô khan đã thành ra những truyện thần thoại lí thú tuyệt vời như vậy. Các truyện kể lại, có cái là cổ tích, truyền thuyết, nhưng phần lớn là do Selma hư cấu ra, và hư cấu trên cơ sở khoa học, kết hợp những kiến thức cụ thể, vững vàng với những mơ tưởng kỳ diệu, khác với truyền thuyết dân gian thường là nặng tính hoang đường và còn nhiều mê tín. Thổi sáo dụ chuột là việc thường thấy trong truyện cổ, nhưng mà cuộc chiến đấu giữa chuột đen với chuột xám sống ở cống rãnh là một giai đoạn có thật trong lịch sử các loài chuột ở châu Âu; chuột đen từ châu Á lan sang trong thế kỉ XIII, thời các tàu Thập tự quân viễn chinh trở về, rồi đến thế kỉ XVII thì bị chuột cống cũng theo tàu biển phiêu dạt đến, đánh bại dần dần để chiếm đất.

Đảo Öland là một khối đá vôi dài trông như thân hình một con bướm cụt cánh, và Nils đã được nghe một người dân đảo kể truyện rằng ngày xưa đó là một con bướm to lớn, nhưng đôi cánh mong manh đã bị cuồng phong, bão tố đánh tan, khiến thân bướm rơi xuống biển rồi hóa thành đá. “Nếu xác bướm mà nằm trên đất liền thì đã nhanh chóng thối rữa và tan thành bụi rồi. Nhưng vì nó rơi xuống biển, ở đó nó được chất vôi thấm vào và đã cứng lại như đá”. Đá vôi hình thành ở dưới nước biển và thường mang những xác hóa đá của các sinh vật, những hiện tượng ấy là đối tượng của địa chất học, một thứ khoa học khô khan thường bị gọi là “khoa học về sỏi”, ai ngờ lại được Selma dùng làm chất liệu để dựng nên một huyền thoại cảm động như thế.

Đảo Öland khô cằn chỉ có những cối xay gió và những đàn cừu thả rông như thú hoang, thế mà ông lão chăn cừu kể lại sự tích của đảo, cứ thiết tha ao ước có ai đem “cho các cối xay kia những chiếc cánh to… đủ sức nhấc bổng cả hòn đảo lên khỏi mặt biển và làm cho nó bay như một con bướm giữa các con bướm”.

Người chăn cừu trẻ tuổi cũng “thấy đúng là hòn đảo đang muốn cất mình khỏi mặt biển và bay lên”. Và ông già lại tin rằng quê hương dù là bần bạc, “tình quê hương ấy vẫn len vào lồng ngực của tất cả những ai sống ở đây… vì chưng toàn thể hòn đảo này là một con bướm đang khát khao có được đôi cánh”.

Lòng yêu quê hương đã được Selma Lagerlöf thi vị hóa đến như vậy. Năm 1907, người ta mong chờ một cuốn sách tập đọc địa lí cho trẻ em Thụy Điển thì văn học thế giới lại được cả một thiên trường ca về thiên nhiên, đậm đà chất thơ và tha thiết tình yêu như thế.

 

4. Thiên trường ca về con người và lao động

Thiên nhiên có thể giàu, có thể đẹp, nhưng phải qua bàn tay sửa sang, tô điểm của con người. Bay trên tỉnh Östergötland, Nils sực nhớ một truyện cổ trong sách lịch sử của mình: truyện chiếc váy nhung dệt chỉ vàng mà một miếng lại vá vải len thô, nhưng ai đó đã đem phủ lên bao nhiêu là ngọc trai, ngọc thạch, làm cho rực rỡ, mĩ lệ hơn cả tấm nhung dệt chỉ vàng. Đối với Nils, bay trên cao thì thành phố, ấp trại, nhà máy, nhà thờ, lâu đài, nhà ga khác nào những “viên kim cương khảm vào giữa những hạt ngọc trai” trên tấm vải len thô nọ.

Tỉnh Sörmland được tả như “khu vườn xinh đẹp” trong giấc mơ của Nils vì ở đấy vị lãnh chúa chết đã bao đời, tôn ông Karl, đêm đêm vẫn hiện hồn về cầm chiếc mai vun xới đất đai. Tỉnh Uppland xưa vốn là nghèo nhất và nhỏ nhất trong các tỉnh, đã phải đi ăn xin những tỉnh giàu có hơn và thu về được “một bộ sưu tập khủng khiếp những của vứt đi”. Nhưng với những thứ ấy, người ở Uppland cần cù xây dựng ra ấp trại, thành phố, bến tàu, làm cho tỉnh mình đẹp nhất, và được nhà vua đến đóng kinh đô. Lao động của dân Uppland “đã làm nên những việc lớn với những phương tiện nhỏ”, Selma Lagerlöf lại nói là họ “làm ra những ông hoàng từ những kẻ ăn mày”. Cô giáo này muốn cho trẻ em đừng chỉ ca tụng suông thiên nhiên ưu đãi ta cái này, cái nọ mà phải học khai thác thiên nhiên thông minh và cần mẫn, may ra mới có đất nước giàu đẹp.

Thiên nhiên là môi trường sinh hoạt của con người, và đời sống các dân tộc từ xưa đã được tổ chức thế nào cho thích hợp hơn cả với môi trường thiên nhiên của mình. Tự tả mình về thăm quê nhà, Selma vui thích nhớ lại tất cả những gì mà người dân tỉnh Värmland vẫn làm quanh năm theo thời vụ: dỡ khoai, cắt bắp cải, nhặt hoa hublông, hái táo, tước sợi lanh, ngâm rồi đập, cán, cắt lông cừu, ngả bò lợn làm nhồi, làm xúc xích, may vá, đóng giày dép cho cả nhà, rồi cất bia, làm bánh ăn mừng lễ Giáng sinh, và tối tối quây quần với nhau học tập, đọc sách, đánh đàn.

Người Thụy Điển sống dưới đồng bằng và thun lũng, “ngày tháng và công việc”[9] của họ là như vậy, nhưng trên miền Bắc và núi cao rét mướt thì người Lapps quanh năm phải đổi chỗ ở, lên cao xuống thấp theo nhịp sống của thiên nhiên. Selma Lagerlöf có để cho một chú bé người Lapps, tộc Same, kể lại một truyện cảm động. Thời dịch hạch hoành hành gọi là “cái chết đen”, người Thụy Điển ở dưới đồng bằng chết hết, chỉ còn một cô gái mười lăm tuổi; người Same ở trên núi cũng chết hết, chỉ còn một anh con trai mười lăm tuổi. Lang thang đi tìm có đồng bào sống sót nào chăng, họ gặp nhau, và anh con trai đưa cô con gái lên quê hương mình; mùa hè họ đưa đàn hươu phương Bắc lên núi cao tìm các đồng cỏ, họ ăn thịt hươu sấy khô, phó mát làm bằng sữa hươu cất giấu từ năm trước, uống sữa hươu, bẫy chim, câu cá, hái dâu vàng ở các bãi lầy. Mùa thu họ bắt đầu xuống các vùng rừng tùng bách; mùa đông xuống thung lũng trong đêm dài hàng tháng, họ bện gân hươu làm dây, thuộc da hươu may quần áo, đóng giày dép. Trời ấm lên, anh con trai đưa bạn xuống đồng bằng, nhưng người con gái không muốn về quê cũ nữa vì đã quen lối sống tự do, phóng khoáng của người Same rồi. Kể câu chuyện, Selma muốn nói với các bạn đọc trẻ tuổi phải tôn trọng cách sống, lề lối làm ăn, phong tục tập quán của các dân tộc khác mình, đứng cứ vội cho là lạc hậu.

Một hôm Nils được nghe một người thợ mỏ già kể chuyện Chia gia tài. Một bà lão khổng lồ, trước khi chết, đã chia gia tài của mình là tỉnh Västmanland làm ba phần cho ba con trai; hai phần màu mỡ, xanh tươi, quang đãng, đem đến cho người ta hạnh phúc đầy đủ, làm cho người ta “hoàn toàn mãn nguyện”; còn một phần thì hoang vu, cằn cỗi, chỉ toàn sườn núi đá dốc đứng, con người phải luôn luôn chống lại gấu và chó sói, chia cho ai thì “chỉ có thể làm cho người ta bất mãn”. Và bà đã dành cái phần thứ ba ấy cho người con út, được bà thương yêu nhất; người ấy vui vẻ nhận phần mình, ít lâu sau mới biết đó là miền đất giàu có nhất tỉnh, vì lòng nó chứa đầy những mỏ sắt, mỏ bạc, mỏ đồng.

Nước Thụy Điển nổi tiếng về sắt thép từ năm thế kỉ nay. Nils được đàn ngỗng đưa đi qua khu mỏ, nỗi ngạc nhiên của chú không tài nào tả xiết. Rồi con gấu bắt được chú, đưa chú đi đốt cái nhà máy thép, chú lại được dịp nhìn thấy cảnh hùng vĩ của lao động luyện thép.

Thụy Điển còn có một nguồn lợi rất lớn nữa: rừng phủ kín hơn một nửa diện tích cả nước. Con đại bàng cõng Nils trên lưng, đưa chú đi xem miền rừng mênh mông, theo các dòng sông chuyển những bè gỗ dài vô tận đến các nhà máy cưa, máy xẻ tập trung thành những đô thị công nghiệp rộng lớn, xuất khẩu gỗ qua những hải cảng sầm uất. Là một chú bé nông thôn chỉ biết có lao động và thu hoạch nông nghiệp, trông thấy bất cứ cái gì trong công nghiệp rừng, chú cũng lấy làm lạ, và mỗi lần là con đại bàng cho đến con chim hoa mai, con chim chìa vôi, con gà trống đều phải giảng giải cho chú, như từng bước trình bày cho chú một bài học về lâm nghiệp, bằng cách so sánh lí thú với hoạt động nông nghiệp mà chú đã biết. Và nghe nói đến cái gì Nils cũng không khỏi lấy làm lạ, nỗi ngạc nhiên cứ dồn dập như một điệp khúc mỗi lúc một tăng, rốt cục làm chú phải thốt lên kính phục: “Mình chưa hề trông thấy ở đâu có đời sống như thế này, và cảnh nhộn nhịp như thế này!... Tuyệt diệu thay đất nước của mình. Ở bất kỳ đâu mình cũng thấy có những cách nuôi sống được con người”.

Một hôm Nils đang ở trong rừng thì xảy ra vụ cháy rừng thật dữ dội, nhưng may không lan ra cả miền, vì có những người chữa cháy rất tận tâm và khôn khéo. Cái tai nạn thường xảy ra ấy được Selma Lagerlöf dành cho khá nhiều bút mực, vì quan hệ giữa người với thiên nhiên không phải chỉ là lãng mạn, chỉ có những ân huệ ban phát cho con người, mà còn phải hiện thực, con người phải đề phòng tai họa do thiên nhiên đưa đến, và có cách chống lại tai họa. Con đại bàng cũng chỉ cho Nils xem những nơi đã có cháy rừng mười năm rồi mà núi đồi vẫn còn “trọc lốc và hoang vu khủng khiếp”. Và tác giả giải thích rất đúng tại sao rừng không mọc lại được: “Chính cái lớp đất không được dày phủ trên mặt đá núi đ