Cập nhật ngày: 28/6/2011 Bằng giải thưởng châu Á lần thứ 16 của báo Kinh tế Nhật Bản được trao cuối tháng 5, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh sau 20 năm ra đời đã được công chúng Nhật đánh giá là “một trong những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới về chiến tranh”.
Dường như chúng ta chưa làm tốt việc quảng bá văn học Việt Nam như lẽ ra chúng ta phải làm? Nhiều nước không dịch của chúng ta và đã lấy làm tiếc, mặc dù vậy họ vẫn biết Việt Nam có tác phẩm này, có nhà văn kia… Tại sao một số nước vẫn chọn dịch tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp? Vì chính giá trị của các tác phẩm đó. Các thị trường văn học lớn của thế giới như Anh, Pháp, Mỹ đều đã dịch một số của ta, dù rất ít, nhưng họ biết chúng ta có một nền văn học quan trọng nhưng chưa được dịch nhiều! Ví dụ nhà văn Vũ Trọng Phụng, mới chỉ bạn đọc trong nước biết, đáng tiếc cho độc giả Anh, Pháp, Mỹ vì không được đọc ông. Hoặc Nam Cao, Nguyễn Tuân… Ngay cả trong khu vực Đông Nam Á, việc giao lưu hiểu biết lẫn nhau thông qua tác phẩm văn học vẫn còn rất hạn chế. Làm sao cải thiện tình hình đó, theo ông? Trong khối ASEAN, người biết tiếng Việt không thiếu nhưng để dịch được tác phẩm văn học từ tiếng Việt ra tiếng nước họ, không dễ. Có lẽ phải chấp nhận các ngôn ngữ lớn: Anh, Pháp, hay Trung Quốc… Nên chăng, những giải thưởng khu vực như giải thưởng văn học các nước sông Mekong, giải thưởng văn học ASEAN đều phải mạnh dạn trao cho những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh. Nhiều người Nhật đã hỏi tôi về cuốn Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, tác phẩm đã được dịch ra tiếng Nhật và được khen vì người ta thấy hay, thấy có cảm tình. Trong khi đó ở Nhật Bản, cũng giống như ở ta, sách Tàu và phim Tàu tràn ngập, tivi giới thiệu suốt. Và điều đáng nói, chủ yếu sách Tàu ở Nhật là do người Tàu tự dịch ra tiếng Nhật! Đó là một việc cần làm vì mục tiêu quảng bá văn học Việt ra thế giới trong bối cảnh đội ngũ dịch thuật của chúng ta đang quá mong manh, e khó kham nổi! Tất nhiên, ở đây cần có sự nỗ lực rất lớn. Để làm được vậy phải vượt lên những tình cảm cá nhân, việc lựa chọn tác phẩm nằm trong danh sách tiến cử trao giải trong khu vực và quảng bá ra nước ngoài phải trên tiêu chí được bạn đọc trong nước thừa nhận, không nên duy trì cách ứng xử “chiếu trên chiếu dưới” lâu nay. Tôi nghĩ cách làm đó sẽ khiến những giải thưởng văn học trong khu vực không chỉ được các nhà văn “biết với nhau là chính” mà sẽ thực chất và có tiếng vang hơn!
Được coi là một trong những tên tuổi của văn học thời kỳ đổi mới, ông đánh giá thế nào về gia sản văn học chúng ta đang sở hữu? Bản tính hay nhất của người Việt là không bài ngoại, tự tôn nhưng không tự phụ, nên rất dễ tiếp thu, từ đó có được sự phong phú trong suy nghĩ, phong cách viết. Vì thế mà chúng ta đã có một nền văn học khá đặc biệt tại châu Á. Nhưng cũng có những hạn chế, nếu không nói là nhiều hạn chế, khiến nền văn học đó không hùng tráng lên được mà chỉ dừng lại ở mức độ “hay với nhau”, dù rằng nếu được dịch ra ngoài thì nó vẫn hay, tôi tin là thế. Tất nhiên giai đoạn văn học nào về cơ bản cũng có hai loại: một loại làng nhàng, hàng xén và một loại là tác phẩm đích thực, tác phẩm đỉnh cao. Không nên gộp làm một. Ám ảnh lớn nhất của nền văn học trong nước, với cá nhân ông? Là đã chịu ảnh hưởng quá nặng, quá lâu cái bóng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hay nói cách khác, bị chính trị hoá quá mức cần thiết. Tác phẩm hay phải vượt qua được những cái bóng đó. Trước đổi mới, văn học Việt Nam từng có nhiều tác phẩm văn xuôi thành công như của Nam Cao hay Nguyễn Đình Thi… nhưng không nhiều. Các nhà văn nhà thơ như Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Đỗ Chu sẽ có những tác phẩm hay hơn nữa, nếu ngòi bút của họ thực sự khoáng đạt, tự do… Quan niệm “tự do sáng tạo”, theo ông? Không có tự do tuyệt đối, chỉ có tự do tương đối. Nhà văn, một mình ngồi trước máy tính, đó là tự do. Dầu vậy họ phải biết tôn trọng pháp luật và hiểu biết về hoàn cảnh chính trị ở nơi mình đang sống với tư cách công dân. Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng trong luật: những nội dung nào là chống chế độ, chống Nhà nước, là vi hiến. Hãy chỉ đích danh những nội dung cấm. Một số cuốn có vấn đề chính trị, Nhà nước cần công khai cho mọi người cùng biết, vì việc thu hồi sách không công bố trên thông tin đại chúng đã khiến những cuốn đó “đắt hàng” và bán chạy hơn trên thị trường đen. Nhà nước có quyền, vì lợi ích chung, nhưng phải có những tiêu chí rõ ràng, rành rẽ. Nếu không, sẽ là sự ngăn cản đối với ngòi bút, đặc biệt với những người viết trẻ, lợi bất cập hại. Tại sao nhà Nguyễn kinh khủng như thế, vua có thể kết án tru di tam tộc, mà vẫn có Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, vẫn có Truyện Kiều? Ý kiến của ông thế nào về sự vô lối trong việc cấp phép tràn lan, thẩm định tác phẩm dễ dãi, khiến chất lượng xuất bản thật giả lẫn lộn, gây thất vọng cho công chúng… Rõ ràng là ở ta chưa có những tác phẩm mà người này cho điểm 0, người khác lại cho điểm 10; chênh lệch đến mấy thì cũng chỉ người cho 5, người cho 8 là cùng. Và đó chính là tự do trong đánh giá, nhìn nhận. Nhưng điều không hiểu được là một số tác phẩm văn chương, phim ảnh đã qua hội đồng duyệt mà chất lượng lại quá tồi tệ, gây nên những phản ứng dữ dội trong dư luận. Đã có những cuốn cực kỳ vớ vẩn và phản cảm vẫn được cho in, làm hỏng thị hiếu người đọc, có tội với bạn đọc. Như vậy, ngoài đòi hỏi nhà văn phải có tác phẩm xứng đáng, thì hệ thống cơ quan quản lý, thẩm duyệt, đội ngũ lý luận phê bình cũng phải thực sự giỏi, có trình độ ngang tầm… Nhìn sang lĩnh vực giáo dục, ông có bằng lòng với những ảnh hưởng tích cực của văn học đương đại đối với thế hệ trẻ? Có người nói ngày xưa dạy văn trong trường phổ thông hay hơn bây giờ. Không hẳn. Đó là thời trò nào cũng vanh vách những bài thơ được cô thầy yêu cầu học thuộc lòng, trong khi 70% các trò chẳng thấy có gì thú vị trong đó… Đến bây giờ, học trò cũng mới chỉ được học những tác phẩm “tốt nhất” theo tiêu chí “đóng hộp” của người biên soạn sách – mà không phải theo những tiêu chí A, B, C nào khác… Đó là vì nền giáo dục của chúng ta chưa thực sự có một cuộc cách mạng. Trong cuộc cách mạng đó, văn chương phải mang lại ánh sáng cho nền giáo dục. Lại có người nói độc giả ngày nay quay lưng lại với văn hoá đọc, lỗi là do cách dạy của nhà trường. Tôi lại cho là vì tác phẩm viết dở, nên không chinh phục được độc giả trẻ. Điều đó cũng tương tự câu chuyện đem văn chương xuất ngoại: anh muốn bạn bè quốc tế đọc truyện của anh, trước hết cái anh viết phải được bạn đọc trong nước thừa nhận, tức tác phẩm của anh phải hay. Người đọc bản ngữ phải thích, thì tác phẩm của nhà văn mới có thể đứng được. Không ít người viết có thâm niên đã hoang mang cắn bút vì cho rằng tác phẩm họ viết ra khó hợp “gu” lớp trẻ… Còn ông? Đã là nhà văn thì phải viết. Trong 1.000 nhà văn nước ta, rải rác cũng có người muốn làm nhà văn vì mục đích khác, đó là điều không tránh được. Nhưng đa phần đều yêu văn học. Tôi cũng vậy, không biết buôn bán, chỉ đủ sống bằng nhuận bút viết báo, bằng tiền bản quyền (vài nhà xuất bản trong nước đã trả dư tiền cho tôi đủ sống!). Vấn đề là thời nào cũng có những tác phẩm tinh hoa, và những tác phẩm dành cho công chúng đại trà…
Khi "Nỗi buồn chiến tranh" có cơ hội hợp tác làm phim với biên kịch và đạo diễn người Mỹ, kịch bản xong rồi ông vẫn không chấp thuận… Ông khác một số người vì không vội vàng khẳng định “thương hiệu” bằng mọi giá, hay còn vì lý do nào khác? Có người nói trong chuyện đó tôi đã quá làm phách! Nói đúng ra là vì tôi không chấp nhận Nỗi buồn chiến tranh kiểu Mỹ! Mới đọc kịch bản, tôi đã không nhất trí, vì tôi thấy họ không hiểu gì về người Việt. Ví như nhân vật nữ bộ đội trong kịch bản, đâu phải là nữ bộ đội Việt Nam. Họ hứa sửa, tôi vẫn không đồng ý, nên họ phải thuê lại êkíp khác để làm. May là nhà sản xuất cũng đồng quan điểm với tôi. Tôi muốn có phim cho tác phẩm của mình, nhưng phim đó phải “vừa mắt” tôi, phải được làm tử tế… vì vấn đề đâu chỉ là chuyện thu nhập hay tên tuổi!
Có phải vì vốn rất khó tính với chính mình mà 20 năm qua, ông vẫn để công chúng mỏi mòn chờ cuốn tiểu thuyết thứ hai sau Nỗi buồn chiến tranh? Hai mươi năm qua, ngoài truyện ngắn, làm báo, tôi vẫn viết tiểu thuyết, nhưng thấy khó quá, nên cứ ỳ ra. Vướng một chữ cũng để đấy… Tôi có tật viết không xong thì không thể làm gì khác. Hồi chưa có máy tính, có người viết đồng thời hai, ba tác phẩm trên hai, ba cái máy chữ, tôi thì chịu… Người Việt Nam chúng ta đang ngày càng thực tế hơn, ông có thấy mình và các đồng nghiệp nhà văn cũng không nằm ngoài xu hướng đó? Dẫu vậy, thế hệ chúng tôi từ bé đã được dạy đồng tiền là xấu xa, đến giờ khi đã trưởng thành về nhận thức, thì ý niệm đó vẫn ở trong đầu, rất khó gột… Nhưng, một số bạn bè tôi lại “trưởng thành” theo chiều hướng ngược lại: trước thì viết rất đạo mạo, lập trường trước sau một giọng; nay, để chiều theo độc giả, đã quay ngoắt sang thứ văn chương lả lướt, sex, thô bỉ… Tôi nhớ, năm tôi học lớp 10, một số nhà thơ đến trường đọc thơ – bắt – lính (dĩ nhiên, trong chiến tranh thì văn chương có nhiệm vụ “vực” tinh thần thanh niên chứ!), nhưng cũng chính họ, giờ đã “đổi màu”! Quá dễ để nhận ra những người như vậy, đám đó đông ra phết. Dù người ta có quyền thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh nhưng thật khó chấp nhận những người thực dụng cả trong văn học vì những gì họ viết chẳng còn đáng tin. Điều đó có nghĩa, nhà văn chỉ có thể viết những điều mình tin? Đúng, kể cả khi anh viết về sự thay đổi niềm tin, một cách chân thành, trung thực. Tài năng và trung thực có thể là một, cũng có thể là hai. Có người tài năng nhưng không trung thực, và ngược lại. Có một số nghề tài năng phải đi cùng với trung thực, ngoài giỏi nghề còn phải có một tấm lòng, như nghề nhà văn, nhà giáo, bác sĩ, công an, toà án… Ông từng nói điều hay nhất trong cuộc đời chính là những điều bình dị… Hầu hết thế hệ nhà văn chúng tôi đều muốn sự bình dị, nhưng nhiều khi không làm nổi. Vẫn cứ uốn éo, làm bộ. Rất khó tránh. Công chúng luôn rất quan tâm đến “ngôi nhà” của các văn sĩ. Ông có thể nói gì về “ngôi nhà” đó của mình? Tôi cũng như hầu hết các nhà văn khác, nhà cửa vợ lo hết. Tôi có thể đi đâu đó, nhưng chỉ có thể trở về cái tổ của mình để ngồi viết. Con trai tôi không theo nghề viết mà làm ngân hàng. Cha – con hiểu nhau trong lặng lẽ. Điều tôi muốn nhất ở con là sự lương thiện, trung thực. Một trí thức tử tế. Và đương nhiên, ai mà chẳng mong cho con cái được hạnh phúc hơn cha mẹ chúng. Một người cầm bút gắn gần cả cuộc đời vào một nỗi buồn mang tên “chiến tranh”, sẽ phát biểu như thế nào về hạnh phúc? Là được sống trong hoà bình, không phải lâm vào chiến tranh. Bởi lẽ, không có gì tốt đẹp hơn hoà bình và cũng không có gì đáng ghê sợ hơn chiến tranh. Người ta không ai có thể một mình làm nên hạnh phúc mà hạnh phúc chỉ có thể có trong một xã hội bình đẳng, tự do, văn minh, dân chủ – muốn thế phải có hoà bình! Đó cũng là “món nợ văn chương” mà tôi chưa trả hết, trong cuốn tiểu thuyết đang viết dở, dự kiến năm nay hoặc năm sau sẽ ra mắt bạn đọc, hoặc sẽ không bao giờ nữa…
Thực hiện: Kim Hoa
Chân dung hội hoạ: Hoàng Tường
(Nguồn: SGTT)
|